Giới thiệu chung

nha-A27

 

Viện Địa chất và Địa vật lý biển, tiền thân là Phân viện Hải dương học tại Hà Nội, được thành lập từ hai trung tâm là Trung tâm Vật lý địa cầu ứng dụng và Trung tâm Địa chất biển, trực thuộc Trung tâm Khoa học và Công nghệ Quốc gia theo quyết định số 53/KHCNVN-QĐ ngày 22/6/1993.

Năm 2005, Phân viện Hải dương học tại Hà Nội tách và đổi tên thành Viện Địa chất và Địa vật lý biển theo Quyết định số 747/QĐ-KHCNVN ngày 02/6/2005 của Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Nghị định số 62/2008/NĐ-CP ngày 12/5/2008 đã công nhận Viện Địa chất và Địa vật lý biển thành Viện nghiên cứu quốc gia trực thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Quyết định 1107/QĐ-VKHCNVN ngày 20/6/2008 của Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam thành lập Viện Địa chất và Địa vật lý biển với chức năng: Nghiên cứu cơ bản, điều tra cơ bản, phát triển công nghệ và đào tạo nhuồn nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực địa chất, địa vật lý biển, vật lý hải dương và các lĩnh vực khác có liên quan theo quy định của pháp luật.        
      Hiện tại, Viện có 74 lao động, trong đ
ó biên chế 60 người (15 tiến sĩ, 22 thạc sĩ, 27 đại học, 02 trung cấp và 08 khác).

 

1. Cơ cấu tổ chức của Viện:       
* Các phòng chuyên môn:
11 phòng và 01 trung tâm

- Phòng Địa mạo biển và Cổ địa lý;
- Phòng Địa hoá khoáng sản;
- Phòng Địa môi trường;
- Phòng Viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS);
- Phòng Thạch học;
- Phòng Địa chấn;
- Phòng Địa từ và Địa điện;
- Phòng Trọng lực biển;
- Phòng Cấu trúc sâu và Địa động lực;
- Phòng Thí nghiệm phân tích;
- Phòng Hải dương học và Vật lý khí quyển (bao gồm cả 02 đài trạm: Trạm Vật lý khí quyển Tam Đảo và Trạm Trường Sa);

- Trung tâm Dữ liệu khoa học và công nghệ biển.

* Đơn vị quản lý nghiệp vụ: Phòng Quản lý tổng hợp

 

2. Cơ sở vật chất và các thiết bị nghiên cứu

2.1. Các thiết bị nghiên cứu

Được sự quan tâm của Lãnh đạo Viện Hàn lâm KHCNVN, Viện Địa chất và Địa vật lý biển đã có được một hệ thống máy móc khảo sát thực địa trên biển, trang thiết bị khá hiện đại, đồng bộ. Cơ sở vật chất của Viện Địa chất Địa vật lý biển cũng ngày càng bổ sung, hoàn thiện để có thể thực hiện được các nhiệm vụ nghiên cứu có chất lượng cao và phức tạp. Một số máy móc thiết bị chính sử dụng đo đạc ngoài thực địa có thể kể đến như sau:

- Máy đo rada xuyên đất hiệu SIR-3000 có khả năng khảo sát các cấu tạo địa chất sâu đến 30-40 m trên đất liền và vùng bờ ven biển.

- Hai máy đo địa chấn nông phân giải cao (do Nga, Pháp chế tạo) có khả năng khảo sát các cấu tạo địa chất đáy biển với độ xuyên sâu từ 30 m đến 200 m bên dưới bề mặt đáy biển. Các thiết bị này dùng cho công tác khảo sát địa chất thềm lục địa rất hiệu quả.

- Hệ thống máy đo sâu hồi âm bao gồm máy đo sâu thông thường JMC và máy đo sâu có thể nghiên cứu được tầng trầm tích nông (sediment echosounder). Các loại máy móc này cho phép tiến hành khảo sát xác định độ sâu của đáy biển.

- Thiết bị siêu âm quét sườn (side scan sonnar) (do Nga, Pháp chế tạo) là loại thiết bị khảo sát các đặc trưng bề mặt địa hình đáy biển và xác định loại vật liệu trên bề mặt đáy biển. Ngoài ra thiết bị này cũng có thể dùng để xác định các vật thể, các tàu thuyền đắm dưới đáy biển.

- Hệ thống định vị dùng trong khảo sát biển (GPS, DGPS) có khả năng xác định vị trí trên biển với sai số khoảng 2-3m.

- Máy đo từ biển dùng để xác định các trường từ trên biển.

- Hệ máy đo đạc môi trường biển bao gôm: LISST25, OBS3A, SHUTTLE dùng để xác định độ đục, kích thước các vật liệu lơ lửng trong môi trường nước, nhiệt độ, độ muối v.v...

- Hai loại ống phóng trọng lực, một do Mỹ sản xuất, một do Đan Mạch sản xuất với kích thước khác nhau dùng trong công tác lấy mẫu địa chất- trầm tích đáy biển.

- Cuốc đại dương là một loại thiết bị lấy mẫu trầm tích bề mặt đáy biển. Đặc biệt, Viện Địa chất và Địa vật lý biển được CHLB Đức trang bị cho loại thiết bị lấy mẫu hộp lớn (giant box corer) có thể lấy mẫu ở độ sâu vài nghìn mét tại đáy biển.

Hệ thống các máy móc trong phòng thí nghiệm:

Máy cực phổ (EG&GPARC) dùng để xác định các nguyên tố vết trong nước và trầm tích.

- Máy cất nước dùng để sản xuất nước cất dùng trong các phân tích thí nghiệm trong phòng phân tích.

- Hệ thống rây, pipet dùng đế phân tích các kích thước hạt trong mẫu trầm tích và mẫu đất.

- Lò nung, tủ sấy, cân phân tích, cân kỹ thuật v.v... dùng trong công tác xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm.

- Kính hiển vi soi nổi, kính hiển vi phân cực do CHLB Đức sản xuất dùng trong việc xác định các khoáng vật, thành phần vật liệu trong các mẫu địa chất.

- Máy phân tích địa hóa khí được Viện Hải dương học Thái Bình Dương (LB Nga) trang bị.

 

2.2. Các trạm nghiên cứu:

Viện đã được Viện Hàn lâm KHCNVN đầu tư xây dựng và trang bị các thiết bị, máy móc cho một số trạm nghiên cứu, quan trắc về địa vật lý, vật lý khí quyển, vật lý hải dương:

- Trạm Vật lý khí quyển tại Tam Đảo;

- Trạm Nghiên cứu Địa vật lý tại đảo Trường Sa lớn;

 

3. Các hoạt động thường xuyên của Viện

- Nghiên cứu môi trường địa chất và các loại tai biến tự nhiên góp phần bảo vệ môi trường và giảm nhẹ thiên tai;

- Nghiên cứu địa động lực và cấu trúc sâu của vỏ trái đất phục vụ tìm kiếm khoáng sản và xây dựng các công trình biển;

- Nghiên cứu các trường địa vật lý phục vụ an ninh quốc phòng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, đảo;

- Nghiên cứu vật lý khí quyển và vật lý hải dương phục vụ xây dựng công trình, bảo vệ môi trường, dự báo và phòng chống giảm nhẹ thiên tai;

- Nghiên cứu tổng hợp các nguồn tài nguyên và năng lượng biển cung cấp cơ sở khoa học cho việc lập quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế biển;

- Điều tra cơ bản về điều kiện tự nhiên, khoáng sản vùng biển Việt Nam và vùng kế cận;

- Ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS để quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển;

- Ứng dụng công nghệ cao vào thăm dò, khai thác, xây dựng và bảo vệ các công trình biển và đảo;

- Thu thập, cập nhật các nghiên cứu mới nhất về Biển Đông phục vụ công tác nghiên cứu, tuyên truyền và bảo vệ chủ quyền biển đảo;

- Xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học và công nghệ biển phục vụ nghiên cứu, quy hoạch và phát triển kinh tế biển;

- Triển khai và chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ mới về biển vào sản xuất, kinh doanh; liên doanh, liên kết và hợp tác nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ biển với các tổ chức khoa học trong và ngoài nước;

- Tham gia thẩm định trình độ khoa học và công nghệ, luận chứng kinh tế, kỹ thuật các công trình biển quan trọng theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

- Dịch vụ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực địa chất và địa vật lý biển và các lĩnh vực khác có liên quan;

- Đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ có trình độ cao trong lĩnh vực địa chất và địa vật lý biển và các lĩnh vực khác có liên quan;

- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực địa chất và Địa vật lý biển và các lĩnh vực khác có liên quan;

 

4. Những thành tựu nổi bật

4.1. Nghiên cứu khoa học phục vụ an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền quốc gia

- Năm 1998-2000, Viện thực hiện các đề tài: “Nghiên cứu địa chất, địa mạo đảo Đá Tây và các đảo ở khu vực Trường Sa phục vụ cho việc mở luồng lạch cho tàu ra vào”;

- Năm 1995-2000, Viện chủ trì và thực hiện đề tài: “Cơ sở khoa học cho việc xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa Việt Nam” (thuộc chương trình biển KHCN-06.04);

- Năm 2000-2004, Viện chủ trì đề tài: “Cơ sở khoa học và pháp lý cho việc xác định ranh giới và biên giới biển của Việt Nam ở vùng biển Tây Nam” làm cơ sở cho việc hoạch định ranh giới quốc gia trên biển ở khu vực biển chồng lấn giữa Việt Nam-Indonexia-Malaysia-Thái Lan và Campuchia (đề tài phối hợp với Ủy ban Biên Giới Quốc gia).

- Năm 2000, Viện cùng với Bộ Tư lệnh Hải quân tham gia nghiên cứu bãi khử từ ở Cam Ranh phục vụ cho hoạt động của tàu trên biển.

- Năm 2005-2007, Viện đã hoàn thành và xuất bản tập bản đồ các điều kiện tự nhiên vùng biển Việt Nam và kế cận, với 61 bản đồ, làm cơ sở cho việc quản lý - phát triển kinh tế biển và thăm dò tìm kiếm khoáng sản cũng như phục vụ công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên biển.

- Năm 2006-2009, phối hợp với Ủy Ban Biên giới Quốc gia và một số đơn vị khác trong nhiệm vụ nghiên cứu phục vụ hoạch định biên giới trên biển: “Xác định ranh giới ngoài thềm lục địa Việt Nam”.

 

4.2. Điều tra cơ bản phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế và quản lý biển

- Nghiên cứu các đặc điểm địa chất - địa vật lý phục vụ tìm kiếm thăm dò khoáng sản khu vực Bãi ngầm Tư Chính - Trường Sa (1993-1997);

- Nghiên cứu địa chất, địa động lực và tiềm năng khoáng sản của vùng biển Việt Nam (Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước KT.03-02, 1995);

- Điều tra các đặc trưng địa vật lý - vật lý khí quyển vùng quần đảo Trường Sa (Đề án thuộc chương trình phát triển kinh tế biển, 1998-2000);

- Điều tra đánh giá biến động tài nguyên - môi trường đới ven biển phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội dải ven biển Việt Nam (1998-2000);

- Trường địa từ tìm kiếm khoáng sản vùng thềm lục địa Việt Nam (2000-2001);

- Nghiên cứu đặc điểm các hoạt động kiến tạo nghịch đảo và ảnh hưởng của chúng tới cấu trúc dầu khí vùng trũng Sông Hồng - Vịnh Bắc Bộ (2006-2007);

- Nghiên cứu cấu trúc địa chất vùng biển nước sâu (>200m) Nam Việt Nam làm cơ sở khoa học để tìm kiếm tài nguyên khoáng sản liên quan (KC.09.18/06-10);

- Nghiên cứu tiến hóa đới ven biển đồng bằng sông Cửu Long và thềm lục địa kế cận trong Holocen-Hiện đại phục vụ phát triển bền vững, (chương trình Nghị định thư, Hợp tác Viện Địa chất Kiel, Đại học tổng hợp Kiel, CHLB Đức, 2008-2009);

- Điều tra, nghiên cứu tiềm năng Gas Hydrate trên Biển Đông (từ 2008 đến nay);

 

4.3. Nghiên cứu tai biến tự nhiên, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai

- Ứng dụng phương pháp viễn thám và GIS đánh giá mức độ ngập lụt Quảng Trị (2001-2003);

- Điều tra đánh giá các loại hình tai biến địa chất đới ven biển phục vụ phòng chống và giảm nhẹ thiên tai (1998-2001);

- Nghiên cứu các tai biến địa chất liên quan tới quá trình địa động lực khu vực biển ven bờ Tây vịnh Bắc bộ (2002-2003);

- Nghiên cứu động đất, núi lửa và sóng thần khu vực Biển Đông (2004-2005);

- Điều tra đánh giá các loại hình tai biến tự nhiên khu vực quần đảo Trường Sa và đề xuất các giải pháp phòng chống làm giảm nhẹ những thiệt hại do chúng gây ra (Chương trình Biển Đông - Hải đảo, 2008-2010);

- Nghiên cứu, cảnh báo nguy cơ trượt lở ngầm trên thềm lục địa Nam Trung bộ (KC.09.11/11-15);

 

4.4. Nghiên cứu phục vụ qui hoạch, quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên biển

- Thành lập tập bản đồ địa chất - địa vật lý Biển Đông tỉ lệ 1/1.000.000 (Đề tài thuộc chương trình KHCN-06-04, 1998-2000);

- Xây dựng tập bản đồ các điều kiện tự nhiên Biển Đông với 60 bản đồ chuyên đề thuộc các lĩnh vực khí tượng, vật lý hải dương, địa chất, địa vật lý, sinh học biển và môi trường (Đề tài KC.09.02, 2001-2004);

- Tổng hợp viết chuyên khảo các điều kiện tự nhiên hệ thống đảo ven bờ;

- Nghiên cứu cấu trúc sâu địa động lực Biển Đông (năm 1997-2000);

- Nghiên cứu tổng hợp các điều kiện địa chất, địa động lực khu vực bắc Vịnh Bắc Bộ phục vụ công tác qui hoạch phát triển kinh tế vùng Đông Bắc Việt Nam (KC.09.09/11-15).

 

4.5. Nghiên cứu bảo vệ môi trường

- Xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường ven biển vịnh Bắc bộ và ven biển Khánh Hòa (Hợp tác Việt-Úc, 1997-1999);

- Nghiên cứu môi trường trầm tích vùng biển ven bờ châu thổ sông HồngViệt Nam (ĐT. TTKHCNQG. 1998-2000);

- Quản lý tài nguyên môi trường dải ven biển Việt Nam (1997-1999);

- Đánh giá tác động môi trường dải ven biển Hải Phòng - Kim Sơn, Ninh Bình (CT. Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, 2003-2005);

- Ứng dụng viễn thám và GIS trong quản lý tài nguyên môi trường dải ven biển (2003-2005);

- Nghiên cứu ứng dụng các phương pháp địa vật lý mới trong thăm dò nước ngầm và quan trắc động thái xâm nhập nước mặn vùng duyên hải và hải đảo (Hải Phòng-Cát Bà, 2004-2005; Thái Bình 2006-2007).

 

4.6. Những thành tựu hoạt động khoa học và công nghệ khác

- Viện chủ trì xuất bản Tuyển tập “Các công trình nghiên cứu địa chất và địa vật lý biển” hàng năm.

- Viện thường xuyên chủ trì, tổ chức các hội thảo, hội nghị trong nước và quốc tế. Đặc biệt, Viện đã tổ chức thành công Hội nghị địa chất biển toàn quốc lần thứ nhất (10/2008) và Hội nghị địa chất biển toàn quốc lần thứ hai (10/2013).

- Là một Viện chuyên ngành về biển, hàng năm trong khuôn khổ các đề tài nghiên cứu các cấp Viện đã tổ chức thực hiện các chuyến khảo sát thực địa trên các vùng biển của Tổ quốc, đặc biệt là hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa. Cho đến nay, Viện đã thực hiện khoảng 130 chuyến khảo sát trên các vùng biển và ven biển Việt Nam;

- Ngoài ra, Viện đã nhận được nhiều bằng khen các cấp cho các tổ chức và cá nhân trực thuộc Viện, điển hình:

+ Về tập thể: Bằng khen của Chủ tịch Viện KHCNVN năm 2011; Cờ thi đua của Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ cấp; Bằng khen của Chủ tịch công đoàn Viên chức Việt Nam các năm 2009, 2010, 2011, 2012. Bằng khen cấp Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam năm 2012 và Huân chương lao động hạng Ba năm 2013.

+ Về cá nhân: 01 bằng khen danh hiệu chiến sĩ thi đua Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam; 02 đồng chí nhận bằng khen của Viện KHCNVN về hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong dự án “Xác định ranh giới ngoài thềm lục địa Việt Nam”; 02 đồng tác giả nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ.

Nhà A27 - Số 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy Hà Nội

Điện thoại:(+84)(4) 3791.0821 - Fax:(+84)(4)3756.1647 - Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. - Website:imgg.vast.vn